Chính trị tả – hữu là gì? Nguồn gốc, phân loại phe cánh tả, cánh hữu

1244

Phổ chính trị tả – hữu là gì?

Phổ chính trị tảhữu là một hệ thống phân loại quan điểm, ý thức hệ, và đảng phái chính trị.

Chính trị cánh tả và chính trị cánh hữu thường được xem như là đối nghịch nhau, mặc dù một cá nhân hay một nhóm cụ thể có thể mang một lập trường cánh tả về một vấn đề và một lập trường cánh hữu về một vấn đề khác, và một số quan điểm có thể chồng lấn lên nhau và được coi là thiên tả hay thiên hữu tùy thuộc vào ý thức hệ.

Ở Pháp, nơi mà các thuật ngữ này phát xuất, cánh tả còn lại được gọi là “đảng của phong trào” và cánh hữu, “đảng của trật tự.” Lập trường trung gian được gọi là chủ nghĩa trung dung, và người mang quan điểm đó được gọi là ôn hòa.

Cánh tả gồm những ai?

Giữa các nhà nghiên cứu, có một sự đồng thuận chung là cánh tả bao gồm những người theo chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa chống tư bản, chủ nghĩa chống đế quốc, chính trị xanh, chủ nghĩa tiến bộ, dân chủ xã hộichủ nghĩa tự do xã hội. Các phong trào bình đẳng chủng tộc cũng thường liên kết với các tổ chức cánh tả.

Cánh hữu gồm những ai?

Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng, cánh hữu bao gồm những người theo chủ nghĩa tự do cổ điển, chủ nghĩa tự do cá nhân, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa bảo thủ, chủ nghĩa tân bảo thủ, chủ nghĩa cựu bảo thủ, chủ nghĩa truyền thống, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa chủng tộc ưu việt,chủ nghĩa dân tộc.

Các nhà nghiên cứu phân loại Dân chủ Kitô giáo thuộc chủ nghĩa trung dung.

Chính trị cánh tả

Trong hệ thống chính trị tả-hữu, chính trị cánh tả dùng để chỉ khuynh hướng chính trị trái ngược với cánh hữu, bao gồm các lập trường hay hoạt động chính trị chấp nhận hoặc ủng hộ sự công bằng và tiến bộ trong xã hội, thường phản đối sự phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội và thường gắn với nhà nước phúc lợi, chủ nghĩa cộng hoà, chủ nghĩa dân chủ xã hội, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa vô chính phủ (chủ nghĩa vô trị), chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa công đoàn và phong trào công nhân.

Chính trị cánh tả cũng bao gồm việc quan tâm đến những người trong xã hội được coi là có hoàn cảnh bất lợi khi so sánh với những người khác, đồng thời cũng bao gồm các phong trào chống lại những bất công trong xã hội, trong đó có các phong trào nữ quyền, dân quyền, quyền LGBT, đa văn hoá, phản chiến và bảo vệ môi trường.

Nguồn gốc

Các từ mang tính chất chính trị “Cánh tả” và “Cánh hữu” được đặt ra trong thời kì Cách mạng Pháp (1789–1799), chỉ sự sắp xếp chỗ ngồi trong Quốc hội Pháp: những người ngồi bên trái thường phản đối chế độ quân chủ và ủng hộ cách mạng, bao gồm sự thiết lập của chế độ cộng hoà và sự thế tục hoá (phi tôn giáo) trong khi những người ngồi bên phải ủng hộ các thể chế truyền thống của Chế độ Cũ. Việc dùng từ “Cánh tả” trở nên phổ biến hơn sau sự phục hồi của chế độ quân chủ Pháp vào năm 1815

Quan điểm

Các hệ tư tưởng thường được xem là cánh tả: chủ nghĩa tự do xã hội, dân chủ xã hội, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa công đoàn, chủ nghĩa vô chính phủ, v.v. Để xem xét cánh hữu hay cánh tả thường dựa vào đường lối thực tế hơn là hệ tư tưởng chính thức, ví dụ tư hữu hóa biểu hiện chính trị cánh hữu, quốc hữu hóa là biểu hiện chính trị cánh tả, nhấn mạnh văn hóa tôn giáo là chính trị cánh hữu, văn hóa thế tục hay vô thần là chính trị cánh tả, mở rộng quyền nhiều hơn xuống tầng lớp dưới là biểu hiện chính trị cánh tả và ngược lại là cánh hữu, cắt giảm an sinh xã hội là biểu hiện chính trị cánh hữu, tăng an sinh xã hội là biểu hiện chính trị cánh tả, cấm nhập cư hay cấm kết hôn với người nước ngoài là biểu hiện chính trị cánh hữu, thông thoáng nhập cư hay cho kết hôn với người nước ngoài là biểu hiện chính trị cánh tả, thông thoáng đầu tư nước ngoài là biểu hiện chính trị cánh hữu, chú trọng bảo vệ kinh tế nội là biểu hiện chính trị cánh tả, gia tăng nhà nước kiểm soát kinh tế là chính trị cánh tả, ngược lại là cánh hữu.v.v…

Ở những nước đa nguyên đa đảng, cánh tả hay được sự ủng hộ của tầng lớp trung lưu lớp dưới và tầng lớp thấp trong xã hội, vì các chính sách của cánh tả thường có lợi cho họ, tuy nhiên điều này không phải là nhất quán, vì nhiều chính phủ cánh tả không thực hiện đúng lời hứa, chính sách kinh tế vấp phải thất bại, tham nhũng…Những người sùng đạo (có thể ở tầng lớp dưới) cũng không hay nghiêng về cánh tả. Trong chính sách quốc tế, cánh tả (ở các nước đa đảng) thường có xu hướng quốc tế hơn, “mềm mại” hơn, ít có tính dân tộc chủ nghĩa hơn so với cánh hữu và do đó ít có nguy cơ xảy ra chiến tranh hơn.

Trong thời kỳ thuộc địa, các đảng cánh tả ở chính quốc và thuộc địa thường muốn mở rộng quyền tự trị hay chấp nhận quyền tự quyết dân tộc hay đấu tranh cho phi thực dân hóa, chống chiến tranh. Năm 1974-1975 khi cánh tả lật đổ độc tài cánh hữu nắm quyền ở Bồ Đào Nha cũng trao trả độc lập cho một số nước châu Phi nhưng các đảng nắm quyền ở đó có ý thức hệ giống họ. Thời gian chiến tranh Việt Nam, hầu hết các phong trào phản chiến, chống chiến tranh, chống quân dịch ở Mỹ và nhiều nước phương Tây do những người vô chính phủ, xã hội, cộng sản, Maoist phát động vì họ ảnh hưởng nhiều của chủ nghĩa quốc tế.

Chính trị cực hữu

Chính trị cực hữu (tiếng Anh: Far-right politics), còn gọi là cánh cực hữu, phái cực hữu, cánh hữu cực đoan, ý chỉ nhân sĩ hoặc tổ chức mà lập trường chính trị của họ nằm ở phía ngoài cùng bên phải của dải chính trị tả–hữu, là hình thức cực đoan của chính trị cánh hữu, tức là chuyên chế và dân tộc chủ nghĩa cực đoan.

Phái cực hữu và phái cực tả thường hàm ý chủ nghĩa cực đoan (extremism). “Phái cực hữu” cũng thường được rất nhiều nhà bình luận chính trị dùng đến để miêu thuật một số đoàn thể chính trị, cuộc vận động và chính đảng khó có thể quy vào phái hữu truyền thống. Một số đảng có thể có khuynh hướng ngầm theo chủ nghĩa tân phát xít hoặc Tân Quốc xã.

Chính trị cực hữu thường nhấn mạnh lòng yêu nước cực đoan, bài ngoại, hay các xu hướng ủng hộ phân tầng xã hội cực đoan hay tôn giáo cực đoan.

Một số học giả sử dụng “phái hữu cực đoan” (Extreme Right) hoặc “phái hữu thiên kích” (Ultra Right) để thảo luận đoàn thể chính trị phái hữu mà nằm ngoài phạm vi chính trị của cuộc tuyển cử truyền thống, thông thường có các phần tử phái hữu cách mệnh, như người theo chủ nghĩa tối cao chủng tộc hiếu chiến với người theo chủ nghĩa cực đoan tông giáo, người theo Chủ nghĩa Quốc xã mới (Neo-Nazism) và đảng viên KKK, v.v. Trong loại cách dùng này, tất cả danh từ ấy có sự phân biệt với phái cực hữu không hiếu chiến hoặc người theo chủ nghĩa dân tuý phái hữu cũng như các phái cực hữu có hình thức khác.

Các học giả có ít nhất hai sự xung đột về cách dùng khi sử dụng “phái cực hữu”:

Cuộc vận động phái hữu có khuynh hướng cải cách hoặc bè cánh phái hữu trong chính đảng Bảo thủ. Họ thường bị gọi là “phái hữu bất đồng chính kiến” (Dissident Right), “phái hữu chủ nghĩa hành động” (Activist Right) hoặc “chủ nghĩa dân tuý cánh hữu” (Right-wing Populism). Lập trường của họ ở vào giữa phái bảo thủ truyền thống và phái hữu cực đoan. Những nhân sĩ này nằm ở ngoài sự cầm đầu của cuộc tuyển cử chính trị, nhưng thông thường họ phát động cuộc vận động cải cách và phi cải cách. Một số chính đảng được gọi là “phái cực hữu” bởi vì chính đảng chủ nghĩa bảo thủ trái ý kiến với chính gốc “trung gian thiên hữu”, cho rằng chính sách của họ đã ngả nghiêng, tách rời lộ giới phái hữu nguyên lúc đầu.

Người theo chủ nghĩa phát xít mới (Neo-fascism) và người theo Chủ nghĩa Quốc xã mới (Neo-Nazism) thường thường được coi xét là “phái cánh hữu” hoặc “phái hữu thiên kích”. Những đoàn thể này thông thường có sẵn tính chất cách mệnh, nhưng mà phi cải cách. “Phát xít mới” và “tân nạp tuý” cũng ngụ ý họ đến từ thời đại hậu thế chiến II.

Vì những phân loại này còn chưa được tiếp nhận rộng khắp, và vẫn có sự tồn tại cách dùng khác, do đó cách dùng cho “phái cực hữu” tương đối là phức tạp.

Cách thức hoạt động

Vào thời gian cuối thế kỉ 19, quang phổ chính trị Pháp Quốc có thể chia thành phái cực tả (người theo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa kích tiến (Radicalism), trung gian thiên tả (người của Đảng Cộng hoà phái tự do), phái trung gian (người ủng hộ quân chủ lập hiến, phái Orleans, người của Đảng Cộng hoà phái bảo thủ, người theo chủ nghĩa Bonaparte) và phái cực đoan (phái bảo hoàng, phái chính thống).

Việc sử dụng “phái cực hữu” của học giả khác nhau có sự xung đột về cách dùng.”Phái cực hữu” được dùng phổ thông nhất để miêu thuật chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa nạp tuý và người theo chủ nghĩa dân tộc thiên kích khác cùng với những hình thái ý thức và phong trào phản động khác.

Song cách nói “phái cực hữu” này thường làm cho người sử dụng hiểu sai lầm, một số nhân sĩ và nhân vật chính trị cánh tả sẽ dùng “phái cực hữu” để gọi một số nhân vật chính trị cứng rắn và cánh hữu bảo thủ, phần lớn nhân vật chính trị này thật sự không phải là phái cực hữu, dù cho những nhân vật chính trị này có lẽ sẽ dính líu đến việc thể hiện quan điểm kì thị chủng tộc, kì thị giới tính và doạ nạt đồng tính luyến, nhưng không thể quy nạp là phái cực hữu.

Hiện thời chính đảng “phái cực hữu” mà nhiều người biết trên thật tế là chính đảng chủ nghĩa dân túy phái hữu, tuy nhiên những chính đảng cánh hữu này đang giữ chặt chủ nghĩa dân tộc, cộng thêm các chính sách xã hội thuộc về phái bảo thủ cánh hữu như phản đối phá thai, nhưng mà cũng duy trì bảo vệ phúc lợi xã hội và sự can dự của Chính phủ vào kinh tế thị trường, chính sách kinh tế của chủ nghĩa tập thể hoặc chủ nghĩa xã hội dân tộc, chính đảng dân tuý phái hữu ở Âu Mĩ liền chủ trương một mạch nhấn mạnh bảo hộ quyền và lợi ích công nhân bản quốc, phản đối việc dẫn đưa di dân nước ngoài tiến vào thị trường lao động.

Mấy năm nay khủng hoảng nghiêm trọng di dân ở Âu Mĩ, chính đảng dân tuý phái hữu liền lập tức chủ trương phản đối di dân mà phần lớn đến từ các quốc gia Y Tư Lan giáo cùng với dân tị nạn đi vào châu Âu, mà coi đó như là chính cương chủ yếu.

(Tổng hợp và dẫn lại)